22 thg 3, 2009

76 mẹo vặt trong Windows (Phần II)

8. (XP) Xem được nhiều Thumbnail hơn:

Bạn có thể điều chỉnh sao cho hiển thị nhiều biểu tượng hơn ở khung bên phải trong cửa sổ Explorer khi xem ở chế độ Thumbnails, bằng cách làm ẩn các tên xuất hiện bên dưới các biểu tượng đi. Nhấn lên một thư mục khác trong khung chứa cây thư mục để thay đổi chế độ hiển thị, sau đó giữ phím Shift khi chọn trở lại thư mục cũ, khi đó các tên xuất hiện bên dưới các biểu tượng sẽ không được hiển thị.

9. (XP) Đưa thư mục đến thanh tác vụ:

Nếu bạn thích khung tác vụ trong cửa sổ Explorer nhưng muốn hiển thị các tác vụ đó khi hiển thị với phù hợp với nội dung của thư mục. Nhấp chuột phải lên biểu tượng nằm bên góc trên bên trái của cửa sổ, chọn Properties, Customize và chọn những mô tả thích hợp nằm ở phía dưới nhãn Use this folder type as template.

10. Xem dung lượng ổ đĩa:

Bạn có thường tự hỏi làm thế nào để xem dung lượng ổ đĩa bạn đang dùng hoặc dọn dẹp nó? Rất đơn giản, bạn nhấp phải chuột lên biểu tượng của ổ đĩa muốn xem trong cửa sổ Explorer (dưới My Computer) và chọn Properties. Bạn sẽ thấy một Biểu đồ hình tròn hiển thị dung lượng sử dụng của ổ đĩa. Có một nút để hiện thị tiện ích Disk Cleanup, và một the Tools liệt kê ra các tiện ích bảo trì khác.

11. (XP) Dồn đĩa, phần1:

Nếu ổ đĩa của bạn được định dạng theo NTFS, bạn có thể nén các tập tin và thư mục lại để tận dụng không gian đĩa. Chọn các tập tin hoặc thư mục mà bạn muốn nén, nhấp chuột phải lên chúng và chọn Properties. Trên thẻ General, chọn Advance. Đánh dấu lên mục Check Compress contents to save disk space và nhấn OK. Bạn có thể bị yêu cầu chỉ ra những tập tin và thư mục cần đưa vào.

12. (XP) Tự động mở CD theo nội dung:

Khi bạn chèn một đĩa CD vào ổ đĩa CD-ROM, Windows sẽ đưa ra một số hành động để bạn lựa chọn. Bạn có thể trả lời một lần cho mỗi loại nội dung (như âm nhạc), nhưng nếu bạn muốn tắt chức năng này, nhấp phải chuột lên ổ đĩa CD trong cửa sổ Explorer và chọn Properties, ở trong thẻ AutoPlay, chọn một nội dung từ danh sách các loại nội dung ở phía trên, và chọn hành động thích hợp tho ý bạn bên dưới. Để tắt chức năng này đối với loại nội dung nào bạn chỉ cần chỉ định cho nội dung cho nó bên dưới là Take no action và nhấn OK.

13. (XP) Dồn đĩa, phần 2:

Để nén toàn bộ một phân vùng NTFS trên đĩa cứng, nhấp phải chuột lên biểu tượng của ổ đĩa trong cửa sổ Explorer và chọn Properties. Đánh dấu chọn lên mục Compress drive to save disk space, sau đó nhấn OK hoặc Apply. Khi đó sẽ xuất hiện yêu cầu xác nhận, tại đó bạn chọn nén tất cả các thư mục con và tập tin (không chỉ trong thư mục gốc) và nhấn OK.

14. (ME, XP) Dồn đĩa, phần 3:

Bạn cũng có thể nén các tập tin một cách tự động bằng cách đưa chúng vào thư mục đã được nén. Để tạo thư mục này, đơn giản bằng cách nhấn phải chuột ở bất kỳ cửa sổ thư mục nào hay trên màn hình desktop, chọn New, Compressed Folder (trong Windows Me) hoặc New, Compressed (zipped) Folder (trong Windows XP). Nếu bạn không thấy chức năng này, thì nên kiểm tra lại để chắc rằng nó đã được cài đặt.

15. (XP, 2K) Chọn tên cho ổ đĩa:

Nếu bạn muốn đặt lại tên tên của các ổ đĩa, hãy đăng nhập vào Windows với quyền quản trị (Administrator), chọn Start, Run, nhập lệnh diskmgmt.msc và nhấn Enter. Nhấp phải chuột lên một ổ đĩa phía dưới của cửa sổ và chọn Change Drive Letter and Path. Chọn Edit hoặc Change, lựa một trong những ký tự đặt tên chưa được sử dụng từ danh sách, nhấn OK, trả lời mọi nhắc nhở xác nhận, và nhấn OK lần nữa.
Sưu Tầm

76 mẹo vặt trong Windows: Các thủ thuật đối với file (Phần I)

1. Làm xuất hiện lại cây thư mục:

Bạn mở một folder, nhưng không có thấy cây thư mục nào xuất hiện bên trái cửa sổ cả. Bạn chỉ cần click lên biểu tượng Folders nằm trên thanh công cụ chuẩn (Standard Toolbar) nếu bạn sử dụng Windows 2000, Me, XP, hoặc chọn Menu View, Explorer Bar, Folders.

2. Tùy biến ở dạng Details, phần 1:


Để thay đổi thứ tự của các cột Name, Size, Type, Date Modified, và những cột khác trong cửa sổ duyệt tập tin ở dạng Details, bạn chỉ cần đặt con trỏ chuột lên đầu mỗi cột và kéo qua trái hoặc phải tùy bạn.

3. (2K, ME, XP) Tùy biến ở dạng Details, phần 2:

Tại sao chúng ta lại để các cột được hiển thị theo mặc định của Windows? Nếu muốn thay đổi, bạn chỉ cần nhấp phải chuột lên vị trị bất kỳ ở đầu cột, và chọn một mục trong trình đơn chưa được đánh dấu để thêm cột chứa thông tin đó, ngược lại bạn sẽ gỡ bỏ đánh dấu để bỏ đi cột tương ứng. Chọn More trên trình đơn hiển thị khi nhấp chuột phải (có thể dùng View, Choose Columns hay View, Choose Details trên trình đơn chính) để tùy biến thông qua hộp thoại.

4. Hiển thị cửa sổ lớn hơn:

Bất kỳ khi nào bạn muốn xem nhiều thông tin hiển thị hơn về một folder hoặc trình duyệt Internet Explorer trên một màn hình, cách đơn giản là bạn nhấn phím F11 để xem cửa sổ đó ở chế độ toàn màn hình. Nhấn F11 nếu muốn xem lại ở chế độ bình thường. Nếu sử dụng Windows 2000, Me, hoặc XP, bạn có thể thêm một nút nhấn để chuyển đổi giữa 2 chế độ bằng cách nhấp phải chuột ở Standard Toolbar và chọn Customize. Nhấn Full Screen ở bên dưới Available Tollbar buTSns, sau đó chọn Add rồi nhấn Close.

5. Ẩn cây thư mục tự động:


Ở chế độ toàn màn hình, bạn có thể làm cho cây thư mục (hoặc bất kỳ tùy chọn nào thông qua View, Explorer Bar) biến mất để bạn có được một vùng quan sát rộng hơn, và cho xuất hiện lại khi bạn rê chuột đến cạnh bên trái của màn hình. Nhấn lên nút pushpin (xem hình 1) ở đỉnh của khung bên trái cửa sổ để Explorer Bar không còn cố định vào cửa sổ nữa và di chuyển chuột về phía phải màn hình để ẩn nó.

6. Hiển thị các tập tin ẩn:

Bình thường, windows giấu nhiều tập tin hệ thống, điều này có thể làm cho việc chỉnh sửa trở nên khó khăn. Để thấy hết tất cả các tập tin, chọn Tools, Folder Options, View trong bất kỳ cửa sổ thư mục hay Explorer nào. Trong danh sách Advanced settings, chọn Show hidden files and folders (hoặc Show all files nếu trong Windows 98). Trong những phiên bản khác với Windows 98, bỏ dấu đánh đấu trước nhãn Hide protected operating system files (Recommended). Nhấn Yes và sau đó là OK.

7. (2K, ME, XP) Mở rộng cửa sổ thư mục:

Nếu cửa sổ thư mục của bạn có một cửa sổ con ở bên trái dùng để liên kết với các tài nguyên hoặc các tác vụ khác mà bạn không bao giờ sử dụng. Muốn có tầm nhìn lớn hơn khi hiển thị các tập tìn và thư mục bạn chọn Tools, Folder Options, Use Windows Classic Folders, OK. Thực hiện xong các động tác này thì Explorer Bar và shortcut của các “common task” sẽ không hiển thị nữa.
Sưu Tầm

Các lệnh thao tác với hệ thống (System)

Các lệnh thao tác với hệ thống (System)

Lệnh CALL

* Công dụng:Gọi để thi hành một tập tin lệnh mà không làm ngừng tập tin lệnh cha của nó
* Cú pháp:call [drive:][path] filename [batch-parameters]
* Ví dụ:
C:\>call command.com
Microsoft(R) Windows DOS
(C)Copyright Microsoft Corp 1990-2001
Lệnh DATE

* Công dụng:Hiển thị hoặc thiết lập ngày hệ thống.
* Cú pháp:date [mm-dd-yy]

Nếu bạn nhập lệnh Date không có tham số đi kèm. Lệnh sẽ hiển thị ngày hiện tại của hệ thống và yêu cầu nhập ngày mới nếu muốn.

Nhập lệnh Date cùng một giá trị ngày tháng với định dạng mm-dd-yy. Trong đó mm: là số chỉ tháng, dd: số chỉ ngày, yy: 2 giá trị cuối của năm. Bạn có thể dùng dấu phân cách là chấm (.), hai chấm (:), hoặc gạch chéo (/) để phân cách giữa các giá trị này.

Cú pháp Date /t để hiện thị ngày hiện tại của hệ thống.

* Ví dụ:

C:\>date /t

Tue 10/28/2008

Lệnh TIME

* Công dụng:Hiển thị hoặc thiết giờ hệ thống.
* Cú pháp:time [hours:[minutes[:seconds[.hundredths]]][A|P]]

Nếu nhập lệnh không có tham số nào, nó sẽ hiển thị ngày giờ hiện tại của hệ thống.
hours số chỉ giờ.

minutes số chỉ phút.
seconds số chỉ giây.

hundredths số chỉ phần trăm giây.

A|P nhập A chỉ buổi sáng, P chỉ buổi chiều.
* Ví dụ:
C:\>time
The current time is: 20:30:20.20

Enter the new time:-

Lệnh CD

* Công dụng:Hiển thị hoặc thay đổi thư mục hiện tại trên các đĩa.
* Cú pháp: cd [drive:][path] [..] hoặc chdir [drive:][path] [..]

Không nhập tham số: lệnh sẽ hiển thị đường dẫn đầy đủ của thư mục hiện tại.

Nhập đường dẫn mới để chuyển thư mục hiện tại với đường dẫn mới.

Tham số là .. để trở về thư mục cha của thư mục hiện tại.

* Ví dụ:
C:\>cd vidu
C:\>VIDU>
Sưu Tầm

Cài đặt AppServ để chạy Localhost!

Việc đầu tiên là download lấy 1 phiên bản APpserv tại đây: http://sourceforge.net/project/showfiles.php?group_id=37459 ver nào cũng được, 2.5.8 2.5.9 thậm chí tìm cái cũ hơn 1 tí thôi 2.5.7 cũng được!
down về xong thì install!
giao diện install khá đơn giản! chỉ việc next next hay install thôi 10.gif
tuy nhiên đến đây!

thì điền vào thế này:
Server name: nhập vào là localhost
Administrator Email: thế nào cũng được admin@localhost chẳng hạn
port để default là 80 nếu như bạn chưa cài bất kỳ apache nào! à nếu đã cài IIS trên windown ở port 80 thì đổi cái port này thành 8080 gì đó!
khi đó nếu chạy http://localhost thì default sẽ là 80 còn nếu chạy apache thì chạy http://localhost:8080 thế này:
đặt xong hết next tiếp thì ra bản enter root password:

ở đây username sẽ là root!
còn password bạn đặt cho cả 2 trường thì tùy ý! tuy nhiên ở đây nên đặt là root lun cho phẻ! còn nếu đặt là thứ khác thì chút nhớ sửa lại cho phù hợp! các tùy chọn khác cứ để mặc định.
xong hết thì tiến hành install! ngồi chờ! 105.gif
xong xuôi nhé! nhấn vào finish để start apache và start mysql!
mở IE hay gì gì đó lên! gõ vào http://localhost <= nếu để port 80, nếu để port khác thì gõ vào: http://localhost:8080 hay gì gì đó! okie nếu nó hiện ra phiên bản Appserv Open ver mấy mấy đó thì đúng còn trắng chạch thì tiêu! phải coi rồi cài lại từng bước ở trên dùm với!. vậy là đã hoàn thành! có thể up forum hay mã nguồn php gì đó lên để install! tuy nhiên phần PHPMYADMIN còn chút chỉnh sửa: có thể khi bạn vào tạo database trong phpmyadmin: http://localhost/phpMyAdmin/ nó sẽ yêu cầu bạn nhập vào username và password thì bạn gõ vào root và pass là cái bạn nhập vào ví dụ tôi nhập là root lun! tuy nhiên cũng 1 số trường hợp nó sẽ hiện ra cái thông báo :
vậy cần phải tạo lại file config.inc.php trong phpMyAdmin: cách tạo như sau:
đầu tiên mở 1 thư mục với tên là config trong thư mục phpMyadmin! sau đó chạy liên kết:
http://localhost/phpMyAdmin/scripts/setup.php
ở đó bạn chọn add thêm server! ở đó bạn điền đầy đủ và đúng thông tin như:
server hostname
server port
user for config thường là root
pass: root hoặc gì đó bạn đặt khi install
xong chọn add
khi đó trong folder config sẽ có thêm 1 file config.inc.php và bạn lưu lại file này ra ngoài thư mục phpMyadmin! có thể chép đè lên file cũ hoặc lưu file cũ ở đâu đó rồi mới chép file này ra!
vậy là ổn! giờ đã có thể chạy song song localhost và cái site của mình rồi! data của cả 2 bên nên thường xuyên backup restore qua lại để đảm bảo!
thêm cái phpmybackup pro đặt schedule backup daily để an toàn hơn!
Sưu Tầm

21 thg 3, 2009

Kinh nghiệm để học PHP

Để học bất cứ một ngôn ngữ lập trình nào những người mới bao giờ cũng phải trải qua 6 giai đoạn. 1. Quan niệm 2. Thử nghiệm 3. Trải nghiệm 4. Kiểm nghiệm 5. Chiêm nghiệm 6. Sáng tạo

Quan niệm

Hãy xác định nhiệm vụ học cho các bạn. Không có định hướng, không còn tầm nhìn bao quát về thế giới phần mềm và không có cá tính, bạn chắc rồi cũng rời bỏ sớm ngành phần mềm nếu không thì cũng chỉ là một coder hay tester ba phải, người mà lúc nào cũng chỉ được coi là một nhân vật bình thường về mọi mặt, không có sự nổi bật và luôn đứng đầu trong đề cử danh sách về hưu non.

Tiêu chuẩn số 1 của một nhà phát triển phần mềm giỏi là sự đề cao tự học. Trường lớp hay trung tâm không phải là nơi đáng tin cậy để học vì người giỏi ko bao giờ chịu mài đũng quần trên ghế bục giảng để giảng đi giảng lại một thứ kiến thức liên tục cũ đi sau vài tháng. Nếu người giỏi thích nói chuyện thì conference là chỗ của họ vì họ thích trao đổi với các industry expert chứ không phải là dọa dẫm học viên.

Diễn đàn này cũng có thể là nơi để học hỏi nhưng đừng nghĩ là người có hiểu biết sẽ trả lời bạn một cách tường tận và chi tiết như thể họ là ông nội của bạn vậy. Muốn họ trả lời hãy học cách hỏi, trước khi hỏi hãy search. Sau khi nhận được câu trả lời hãy search.

Thử nghiệm
PHP là một công nghệ bao gồm có 6 bộ phận:
+ Bộ thông dịch
+ Ngôn ngữ
+ Cấu trúc dữ liệu
+ Các thuật toán trên dữ liệu hay còn gọi là các API
+ Các công nghệ đi kèm hoặc có thể giao tiếp được với PHP.
+ Các best practice đặc thù của riêng công nghệ đó.

Hãy tập cài đặt bộ thông dịch PHP, Apache, MySQL và chạy triển khai các ứng dụng PHP có sẵn.
Hãy thử nghiệm ngôn ngữ PHP với các vòng lặp, điều kiện, in, nhúng HTML, làm quen function, method, class
Cấu trúc dữ liệu là một phần khác của PHP. Ở công nghệ này Hash, Array và Map đều được gộp vào kiểu array. Rất dễ chịu cho bạn khi bạn đã từng làm quen với các cấu trúc dữ liệu của C# hay Java.
Cấu trúc dữ liệu không phải là một cấu trúc chết. PHP cung cấp khoảng hơn 1000 function (API) xử lý nó. Array là một kiểu như vậy. DOM là một kiểu khác. Làm bài tập trên các API dạng này là một cách tốt để làm quen với ngôn ngữ và bộ thông dịch. Các bài tập có thể chỉ là in ra một cái resume, tạo một cái layout đơn giản nhất từ việc sử dụng include, tạo một form nhập liệu đơn giản, tạo một form upload đơn giản…

Tài liệu sách vở thì có rất nhiều. Bạn nên đọc các chương trong PHP Manual. Đọc các tutorial trên mạng và luyện tiếng Anh. Các ebook đáng chú ý:

Trích:
++ Apress Beginning PHP and MySQL 5 From Novice to Professional 2nd Edition (2006)
++ Apress Beginning PHP and PostgreSQL E.Commerce (2006)
++ Prentice Hall PHP 5 Power Programming (2004)
++ O’reilly Programming PHP 2nd Edition (2006)
Các công nghệ đi kèm với PHP là một thế giới cực kì phức tạp. Bạn có thể sẽ làm quen với các công nghệ opcode hay biên dịch mã PHP ra mã nhị phân để chạy thay vì nhìn nó dưới dạng text. Nó là một extension nguồn mở của công nghệ PHP. Bạn cũng có thể quan tâm đến việc sử dụng PHP để giao tiếp với các hệ thống con trong Linux như shared memory, gettext, socket, stream… Socket và stream là các công cụ vạn năng để PHP giao tiếp với các hệ thống phần cứng và phần mềm. Bạn cũng có thể quan tâm đến sử dụng PHP và C trên cùng một file PHP thông thường hay nhúng mã dll của các thư viện trên Windows vào PHP và sử dụng lại. PHP làm việc này thông qua việc sử dụng một ext. mã nguồn mở do Wez viết có thể tải về PECL. Bạn cũng có thể quan tâm đến việc sử dụng PHP để viết các ứng dụng desktop mà bạn có lẽ vẫn dùng VB để viết bằng cách sử dụng thư viện GTK.

Tuy nhiên điều bạn có thể sẽ quan tâm hơn cả là liệu PHP được hỗ trợ như thế nào để giao tiếp với các hệ thống khác. PHP có thư viện để giao tiếp với Active Directory, LDAP, các hệ thống hỗ trợ SMTP/POP3/IMAP/FTP/SSL, SMS Gateway, GIS server, Router… PHP được Java hỗ trợ tốt để trở thành một công nghệ trên Java platform và nhờ đó bạn có thể gọi các gói Java để sử dụng lại hay sử dụng các application server của Java như Sun One Webserver, Glassfish application server thay cho Apache server hoặc sử dụng các dịch vụ Java khác như OpenSSO. JSON và XML được hỗ trợ buit-in trong PHP cũng là phần rất đáng tìm hiểu vì các nhà công nghiệp phần mềm ở các tổ chức chuẩn công nghiệp như OASIS, ECMA hay W3C sử dụng các gọi này để giúp PHP hỗ trợ kiến trúc Webservice/SOA, SDA, MDA (phần này do IBM đóng góp cho cộng đồng PHP)…..

Phần PHP giao tốt tốt nhất có lẽ là database. OCI do Oracle đóng góp, DB2 do IBM đóng góp, libmysql do MySQL AB đóng góp và pgsql do cộng đồng PostgreSQL đóng góp và luôn hỗ trợ các bản database mới nhất. Ngoài ra PHP có sẵn một database server SQLite nhúng đi kèm với mọi bản PHP 5.0+ có thể giúp bạn tiện trong việc xử lý các nhóm data nhỏ nhưng đủ mạnh mẽ như Access.

PHP là một công nghệ đặc biệt và nó có các đặc trưng riêng như share nothing. Điều này làm cho PHP có tính scalability rất tốt và được các mạng xã hội rất chuộng. Không phải ngẫu nhiên mà Tim Bray, giám đốc các công nghệ Web của Sun lại cho là PHP có tính scalable hơn Java trên tầng presentation (http://www.tbray.org/talks/php.de.pdf) trong khi từ trước đến nay họ vẫn tự hào là công nghệ Java cho họ thống trị thế giới web doanh nghiệp, các phần mềm ngân hàng và thị trường viễn thông, vượt trội cho với công nghệ .NET của Microsoft. Đặc điểm này của PHP cũng là tâm điểm tạo ra các best practice mà bạn cần khai thác khi lập trình với PHP.


Trải nghiệm
Là giai đoạn bạn bắt đầu quan tâm đến việc dùng PHP để code các ứng dụng sản xuất bằng việc tự tin sử dụng các API. Giai đoạn này hoàn toàn phù hợp với việc lấy một chứng chỉ Zend nếu bạn muốn. Tuy nhiên Zend chỉ chứng nhận bạn là có kĩ năng để nhớ API, một điều khá cần để code API với notepad Đặc trưng của giai đoạn này là thực hành để có các cảm nhận chung về kĩ năng code. Giai đoạn này sẽ đem lại cho bạn một niềm tự hào trẻ con nhưng rất cần thiết. Giai đoạn này bạn sẽ phải kết hợp PHP với CSS/XHTML, graphic design, SQL, web authoring, Javascript, web hosting, system scripting… Là một lập trình PHP, bạn tự biết mình phải đa tài hơn các lập trình viên ASP.NET, nơi tooling thống trị kĩ năng handcode, hơn Java, nơi mà kĩ năng viết business logic được chú trọng hơn

Kiểm nghiệm
Nếu như giai đoạn trải nghiệm là giai doạn code bung bét, bug tùm lum, bảo mật bằng không thì đây chính là lúc bạn quan tâm đến việc refactor lại code. Bạn có thể tạo ra nhiều function và class hơn trong một nỗ lực cố gắng làm cho chúng modular hơn. Bạn sẽ cố áp dụng các thư viện như PEAR hay Smarty, PHPSavant vào ứng dụng của bạn để làm cho cách code của bạn đi vào chiều hướng ổn định. Lúc này bạn đã thấy được sự cần thiết phải có một coding convention nhất quán ([url=http://pcdinh.googlepages.com/phpvietnamcodingstandards]Reference[/url). Bạn sẽ quan tâm đến bảo mật hơn. Giai đoạn này sẽ giúp bạn có một lối tư duy chín chắn hơn nhưng nhiều lo ngại hơn vì bạn cho rằng bạn vẫn chưa thực sự hiểu PHP.

Chiêm nghiệm
Đây là giai đoạn bạn đã tiến đến mức cao. Bạn đã nắm được bản chất của PHP. Bạn quan tâm đến cơ chế PHP vận hành ở mức compiler hơn. Bạn bắt đầu học UML, design pattern, tìm hiểu về các hệ thống lớn. Bạn đã vững vàng trong việc tạo ra các lớp và muốn tổ chức các lớp đó cho khoa học hơn. Bạn quan tâm đến các software engineering processes và tự hỏi làm sao để áp dụng XP, Scrum hay các agile methodology khác. Bạn sẽ quan tâm đến performance, object oriented engineering, database design, system architect, code review. Bạn sẽ bắt đầu chán Pear và ghét Smarty. Việc tương tác giữa PHP và các hệ thống khác như Python, Ruby, Jaav, Erlang .. trở nên quan trọng hơn với bạn lúc này vì cuối cùng thì bạn đã nhận ra PHP có nhiều điểm yếu nhưng không tới mức phải thay thế PHP bằng 1 giải pháp khác. Các công nghệ mã nguồn mở và tự do sử dụng phân phối như Java, Perl, Python, Ruby, JRuby, Groovy, Erlang, Lua… cho phép chúng tận dụng các thư viện của nhau cũng như các điểm mạnh riêng của nhau. Đó là thời gian bạn thấy sung sướng vì đã chọn 1 công nghệ nguồn mở như Java hay PHP hay Python.

Sáng tạo
Là giai đoạn cao nhất và cũng phức tạp nhất vì lúc này bạn đã hiểu công nghệ đến mức có thể triển khai các hệ thống lớn, customize và migrate các ứng dụng phức tạp. Có đủ tư duy và kiến trúc cũng như độ trải nghiệm thực tế để thiết kế hệ thống . Lúc này bạn đã có thể tự đặt cho mình mục tiêu làm các ứng dụng lớn với PHP kiểu như
+ Flickr: 60 000 LOC
+ Digg: 200 000 LOC
Bạn cũng có thể hoàn toàn tự tin dùng PHP để tạo ra các ứng dụng ERP, CRM, Forecast System vốn thường được code bằng Java, ASP.NET hay Delphi có truyền thống đắt đỏ, kén server, đòi hỏi nhiều tài nguyên. Lúc đó, PHP trong tay bạn đã vượt ra khỏi phạm vi của một công nghệ web vì bạn đã biết đủ PHP và mối quan hệ với các công nghệ bổ sung cũng như kinh nghiệm triển khai các công nghệ đó.

Bạn đột nhiên quan tâm nhiều đến các cuộc hội thảo. Bạn thấy kinh nghiệm của các industry expert thật cần thiết và gần gũi với khả năng của bạn. Có thể một lúc nào đó, bạn thấy mình gần như là một thought leader. Một lúc khác, bạn lại muốn nhập vai một C hacker.

Lúc này bạn đã lớn rồi. Ai dám khuyên bạn nữa chứ Cẩn thận, bạn có thể là một PHP Dictator đấy.

Sưu Tầm

1 số ebook về PHP

  • DOWNLOAD

  • http://www.box.net/shared/ez7qpupkww

  • http://ebook.tech24.vn/download/201-Can-ban-PHP.html

  • http://ebook.tech24.vn/download/569-Lap-trinh-PHP-tieng-Viet.html

  • http://ebook.tech24.vn/download/2298-Tai-lieu-tham-khao-Ngon-ngu-lap-trinh-PHP-va-MySQL-(Tieng-Viet).html
  • Phòng và diệt virus đơn giản

    Bài viết này dùng 1 từ Virus để nói chung (virus, worm, trojan…)
    Dùng 1 từ USB để nói chung đến các thiết bị lưu trữ di động (usb, mp3, mp4, thẻ nhớ…)

    Trước sự tấn công hàng loạt của nhiều loại virus nội ngoại nhập, người sử dụng vi tính luôn đứng trước nguy cơ bị đánh mất các thông tin quan trọng. Có những người viết virus vì mục đích xấu, ăn cắp dữ liệu, phá hoại, chứng tỏ …, bên cạnh đó cũng có những người viết virus chỉ đơn thuần là học hỏi, vượt qua thử thách, và những người này thì thường chỉ để lại dòng tin nhắn zui zui, chứ chẳng phá có hại gì cả. Nói thế để mọi người biết, không phải ai viết virus cũng là kẻ xấu cả. Tuy nhiên, nếu không có họ thì ta sẽ không thể phát hiện ra những điểm yếu trong máy tính ngày nay. Nói tóm lại, “phá hoại” và “bảo vệ” là 2 hành động luôn song hành nhau, nhằm một mục đích, -> Tiến tới sự phát triển cao hơn.
    Vả lại, không có virus thì BKAV bán cho ai, à mà không biết có ai lại đi bỏ tiền ra đi mua BKAV về để diệt virus không nhỉ ?
    Dù là “phá hoại” hay “bảo vệ” thì tui cũng chẳng mún dính liếu vào mấy con virus này. Và dù U đến với mục đích tốt hay xấu, tôi cũng chẳng mún có sự xuất hiện của U. Vậy làm thế nào để tự bảo vệ mình trước ngày “…” Hix, chúng ta hãy cũng nhau phân tích.

    Virus là gì? – Nó chỉ là một chương trình be bé, và thực hiện những điều cũng be bé. Từ những việc rất nhỏ như hiển thị một câu “ I Love You ! ” đến việc bạn được “cô hầu phòng” dọn dẹp cái phòng “Công nghệ số” của bạn. Đến lúc đó, chuyện nghĩ đến việc gầy dựng lại sự nghiệp, nghe sao chua xót wé đi thôi.
    Diệt những con virus cỡ bự thì đệ đây thực sự không bít, mà nếu nó đã dọn sạch “cái phòng” bừa bãi của huynh roài thì thoai, Format toàn bộ ổ cứng xem ra là lựa chọn nhanh nhất cho huynh roài, nghĩ gì nữa cho mịt .
    Nhiều người bảo cài phần mềm Anti Virus là xong rồi, thế nhưng đâu phải ai cũng có điều kiện cài các phần mềm mạnh mẽ để diệt virus, cài BKAV thì thành thật xin lỗi ông Nguyễn Tử Quảng, thật sự thì điều này cũng bằng thừa. BKAV có một ưu điểm là cập nhật rất nhanh các virus vừa xuất hiện của Việt Nam, tuy nhiên, khả năng diệt của nó không cao và không có khả năng phát hiện trước các nguy cơ tiềm ẩn.

    Vấn đề I: Dựng hàng rào phòng thủ

    1. Tắt Autorun:

    Dành cho những người chuyên đem USB ra dịch vụ Internet, chép tài nguyên, rồi đem về đưa vào máy. Vậy con đường duy nhất để virus chui vào nhà mà không xin phép chính là cái USB của bạn. Điều đầu tiên, bạn cần phải tắt chức năng autorun của Window đi. Điều này sẽ ảnh hưởng đến một số chức năng tự động như, bỏ đĩa nhạc vào, nó sẽ không tự bật lên. Dĩ nhiên là “đôi khi” thôi, vì nếu bạn cài Herosoft hay cái gì đó tương tự, thì chuyện sẽ khác.
    Cách làm: Vào Start – Run (hay bấm phím + R)

    Xuất hiện hộp thoại, bạn gõ vào chữ: gpedit.msc, chọn OK hoặc bấm Enter



    * Bạn cũng có thể thiết lập nhiều thứ ở đây, chỉ cần biết chút tiếng Anh thoai.

    2. Tắt System Restore:

    - System Restore là gì ?

    System Restore là chức năng rất hữu ích của Windows, nó là tiện ích dùng để phục hồi lại dữ liệu bị hư hỏng trên máy ( nhất là các dữ liệu bị hỏng do Restart máy đột ngột. Song ở nó cũng có một hạn chế rất lớn. Sau khi chạy được một thời gian hay bị Restart nhiều lần thì nó sẽ chiếm rất nhiều không gian ổ cứng, thậm chí lên tới hàng Gb, và nếu vẫn để ứng dụng này hoạt động khi quét Virus thì có thể sẽ không phát huy được tối đa công việc cần làm.

    Còn theo mình, System Restore là thứ phiền toái. Dẹp nó đi cho bỏ ghét. Nếu không có chuyên môn khi dùng nó, bạn nên dẹp nó đi.



    - Tại sao phải tắt System Restore ?
    Đọc lại khái niệm

    - Cách thực hiện:

    Click chuột phải vào My Computer, chọn Properties, chọn tab System Restore


    Chọn Apply, nếu hiện ra hộp thông báo thì chọn YES, chọn tiếp OK

    3. Tạo Autorun cho USB:

    Các virus sau khi xâm nhập vào USB, “thường” tạo một file autorun.inf, để chạy virus. Vậy, nếu ta tạo một file autorun sẵn thì sẽ dễ dàng nhận biết khi nó bị thay đổi.

    Nên dùng cách này để mở các ổ đĩa khác, nếu bạn biết chắc Virus đã xâm nhập vào các ổ đĩa.

    Lưu ý: Khi nhấp phải chuột vào ổ USB, hoặc các ổ đĩa khác, nếu thấy xuất hiện những thứ lạ lẫm giống như

    Hoặc có ký tự con giun, con vịt gì đó, thì biết rằng, bạn đã bị xâm nhập.

    5. Dùng Status Bar để phát hiện kẻ địch:

    Status Bar được xem như là một thanh trạng thái. Mình đã đi khắp nơi, ngồi ở nhiều máy tính khác nhau, tuyệt nhiên đều thấy: Ở các máy này đều không mở Status Bar, và mặc định thì Window cũng không mở nó. Thế nhưng nó chính là công cụ hữu hiệu giúp ta nhận biết virus, nhất là những virus tạo Folder giả.
    Đây là hình dáng thanh Status Bar:

    Nếu chưa có nó, bạn có thể bật lên bằng cách: Vào Menu View - Chọn Status Bar
    Hướng dẫn bằng hình ảnh:


    Nhận biết được gì từ Status Bar:

    1. Folder giả được tạo:
    Folder giả, khi để chuột vào Folder, trên thanh Status Bar sẽ xuất hiện dòng chữ như bạn đã thấy. Dòng chữ này cho biết, đó là một File, được tạo vào ngày…tháng…năm…, và có kích thước


    Còn đây là một Folder bình thường:


    Folder bình thường, Status bar sẽ để dòng chữ “x objects selected” - với x là số folder mà bạn chọn.

    2. Thấy những files/folders ẩn:
    Thông thường, bạn sẽ không ẩn Folder, nếu chúng “trong sạch” và không phải là thứ cần đựơc bảo mật. Như vậy, nếu bạn tạo ra 30 folders trong ổ USB, bạn sẽ thấy dòng Status Bar như sau.


    Tuy nhiên, nếu ổ USB, hay ổ cứng bị nhiễm virus, (Ở đây nói riêng đến virus tạo Folder giả, và ẩn Folder thật) thì bạn sẽ thấy như hình sau:


    Bạn phải làm gì khi gặp trừơng hợp này: Hãy đặt ra câu hỏi với chính mình.
    + Mình có làm “ẩn” 16 tập tin hay(và) thư mục nào không ?
    + Nếu có, thì con số đó có lên tới 16 hay không ?
    + Nếu không, vậy những tập tin “ẩn” ở đâu ra ?

    Chú ý: Trường hợp các bạn luôn mở chức năng xem files/folders ẩn thì bạn sẽ thấy tất cả, và Status Bar sẽ không cho các bạn biết số files/folders bị ẩn. Lúc đó, các bạn phải xem xét tổng quát và đặt ra câu hỏi.
    + Tại sao có 2 thư mục giống nhau, 1 cái ẩn, 1 cái hiện ?
    + Cái nào là thật ? Cái nào là giả ?
    Hãy dùng Status bar để nhận biết câu hỏi thứ 2, như mình đã hướng dẫn ở trên.
    (Thư mục bị đặt thuộc tính ẩn, sẽ mờ hơn thư mục bình thường). Bạn đã mở chức năng xem tập tin ẩn, bạn thấy số tập tin ẩn trên Status Bar, nhưng lại không thấy chúng trong ổ đĩa? Bạn bị xâm nhập. Hết!
    Qua 5 hệ thống phòng thủ ở trên, bạn sẽ tránh đựơc nguy cơ bị lây nhiễm từ USB vào máy tính.
    Khi biết Virus nằm trong USB, nó sẽ không thể lây nhiễm nếu bạn không chạy nó.
    Khi đó hãy áp dụng phương pháp diệt virus.
    Sưu Tầm